MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU .2 1. Lý do chọn biện pháp .2 2. Mục đích nghiên cứu .....4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ....4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...4 5. Phương pháp nghiên cứu ...4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .5 1. Cơ sở lý luận ...5 1.1. Căn cứ vào tâm lí học lứa tuổi ..5 1.2. Căn cứ vào nguyên tắc dạy học .5 1.3. Căn cứ vào yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học 5 2. Cơ sở thực tiễn ....6 2.1. Giáo viên ..6 2.2. Học sinh ...7 3. Các biện pháp .8 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .22 1. Kết quả ..22 2. Ứng dụng ...24 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...25 1. Kết luận .25 1.1. Ý nghĩa của biện pháp .25 1.2. Bài học kinh nghiệm ....25 2. Kiến nghị ..26 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..27 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến Giáo dục-đào tạo và coi Giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa.” Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì Giáo dục - đào tạo được xem là mũi nhọn trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Như chúng ta được biết, tại hội nghị lần thứ II BCH Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”. Và để khẳng định rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp phát triển CNH-HĐH đất nước tại đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa đã đề ra: “ ...Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”... Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh. Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt quyết định đến sự tồn tại của nhà trường. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội, nghệ thuật, thể dục... Chương trình Toán của Tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Môn Toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết các suy luận đơn giản góp phần rèn luyện phương phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo. 3 Môn Toán là “chìa khoá” mở của các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn Toán là một bộ phận không thể thiếu được trong nhà trường. Tuy nhiên hiện nay hứng thú học tập môn Toán của học sinh tiểu học nhìn chung vẫn còn bị hạn chế, không ít em sợ toán, coi việc học toán là một công việc nặng nhọc, căng thẳng. Có thể do các em chưa nhận biết tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học toán, chưa được kích thích hành động tích cực, sáng tạo trong quá trình giải toán; còn có thể do nội dung môn Toán khô khan, phương pháp dạy của giáo viên chưa thật sự hấp dẫn. Nhất là môn Toán lớp 4 kiến thức nhiều, đòi hỏi sự suy luận cao. Vậy làm thế nào để học sinh có cái nhìn khác về toán, giúp cho mỗi giờ học toán bớt đi sự căng thẳng, các em tìm thấy niềm vui trong môn học khô khan này để từ đó chất lượng môn Toán dần được nâng cao là điều mà lâu nay tôi trăn trở. M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo. Và tôi đã nhận ra việc “học mà chơi chơi mà học” nó quan trọng đến nhường nào và việc tạo niềm hứng thú về một điều các em chưa biết, về một kiến thức khô khan là một điều rất quan trọng không chỉ giúp các em ghi nhớ, lĩnh hội nhanh bài học mà ngay cả giáo viên cũng có niềm động lực để dìu dắt các em trên con đường chiếm lĩnh tri thức. Như vậy, để giúp học sinh có hứng thú trong học tập là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, bởi hứng thú là nguyên căn dẫn đến mọi hành động của học sinh. Khi học sinh có lòng ham mê chúng sẽ nỗ lực hết sức để làm việc và thái độ của chúng lúc này cực kì chủ động và tự giác. Chính sự cần thiết ấy, tôi đã nghiên cứu và viết sáng biện pháp “Biện pháp gây hứng thú học tập, phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 4 trong quá trình dạy học môn Toán” 4 2. Mục đích nghiên cứu Đưa ra các biện pháp dạy học tạo cho học sinh hứng thú học tập giúp học sinh lĩnh hội tri thức mới chủ động sáng tạo, phát huy tối đa năng lực, hình thành những phẩm chất tốt cho học sinh, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục một cách tốt nhất. Hoàn thiện hơn phương pháp của bản thân, góp phần nhỏ bé vào công tác đổi mới phương pháp dạy học của trường tiểu học để nâng cao chất lượng dạy và học. Chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân với đồng nghiệp, đồng thời cũng mong nhận được những đóng góp từ phía đồng nghiệp. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Phân tích thực trạng của việc sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên trong trường. Đưa ra và phân tích một số biện pháp dạy học gây hứng thú học tập, phát huy tính tích cực cho học sinh trong quá trình dạy học môn Toán lớp 4. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 4A và học sinh khối 4 trong trường tôi đang công tác. Nghiên cứu và đối chiếu về kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 4A năm học 2021-2022. Nghiên cứu về phương pháp gây hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh trong giờ học môn Toán lớp 4. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát, dự giờ. - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp điều tra, nghiên cứu. - Phương pháp thực nghiệm. 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận 1.1. Căn cứ vào cơ sở tâm lí học lứa tuổi Ở bậc Tiểu học do còn nhỏ nên học sinh còn rất ham chơi, không thích gò bó, khuôn mẫu. Ở giai đoạn này các em chưa xác định được rõ mục đích của việc học, động lực chính thúc đẩy các em học là hứng thú. Nếu các em thích việc gì đó các em làm rất say mê và cố gắng làm cho bằng được, còn không thì các em sẽ thờ ơ, không tập trung, thậm chí còn không làm. Dựa vào đặc điểm tâm lí trên khi đưa ra phương pháp hoặc hình thức dạy học giáo viên phải tạo cho học sinh sự hứng thú thì tiết học mới thành công. 1.2. Căn cứ vào nguyên tắc dạy học Phương pháp dạy học hiện nay là lấy học sinh làm trung tâm, học sinh phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức, còn giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học của học sinh. Muốn làm được điều này, yêu cầu người giáo viên trong quá trình dạy học phải thực sự quan tâm tới đối tượng học sinh; quá trình nhận thức cần phải dựa trên kiến thức, kĩ năng, vốn sống, vốn kinh nghiệm đã có của học sinh. 1.3. Căn cứ vào yêu cầu về việc đổi mới phương pháp dạy học Để hoàn thành mục tiêu của chương trình giáo dục tiểu học đã đề ra "Giáo dục tiểu học nhằm giúp cho học sinh có cơ sở ban đầu cho sự phát triển lâu dài đức, trí, thể, mĩ và có kĩ năng cơ bản cho sự hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho các em học lên trung học cơ sở". Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục được quy định tại luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 như sau: “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”. Theo Thông tư 22/2016-BGD&ĐT quy định Đánh giá định kì về học tập đối với học sinh lớp 4 và 5 và tiếp cận cách đánh giá 6 của CTGDPT 2018: Đề kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau: Mức 1: nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học; Mức 2: hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân; Mức 3: biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết những vấn đề quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống; Mức 4: vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt; Tuy nhiên chương trình sách giáo khoa hiện hiện hành chưa thể hiện rõ nội dung mức 3 và 4. Do đó, đòi hỏi giáo viên phải điều chỉnh nội dung, đổi mới phương và cách thức tổ chức dạy học thì mới đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục. Cụ thể: Phương pháp dạy học hiện nay phải phát huy được tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, từng môn học, vận dụng được kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn đời sống, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Giáo viên Trong quá trình dự giờ thăm lớp, sinh hoạt chuyên môn, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp tìm hiểu hứng thú học tập của học sinh tôi thấy: Hiện nay trong quá trình dạy học nhiều giáo viên còn sử dụng quá nhiều phương pháp truyền thống, áp đặt, thiếu mềm dẻo nên chưa thực sự tạo cho học sinh hứng thú trong học tập, dẫn đến các em còn thờ ơ, chểnh mảng với tri thức, không chịu động não, tìm tòi, thậm trí nhiều em còn chán học, sợ học và khẩu hiệu "mỗi ngày đến trường là một ngày vui" dường như là vô vọng với các em. Trong quá trình giảng dạy giáo viên còn phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung được biên soạn trong sách giáo khoa, ngại thay đổi, ngại sáng tạo. Các kiến thức, vốn sống, vốn kinh nghiệm sống của học sinh chưa được giáo viên khai thác. Đặc biệt khi dạy các 7 tiết toán có bài toán mẫu giáo viên thường sử dụng các bài toán này để dẫn dắt học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức mới. Cách làm này theo tôi đã tạo học sinh một nhiệm vụ học tập hết sức nặng nề ngay từ đầu giờ học nên ít thu hút được học sinh vào quá trình học tập. Ngoài thực trạng trên còn một thực trạng nữa dẫn đến học sinh không hứng thú học tập là các tình huống chứa vấn đề được giáo viên đưa ra một cách khô khan, cứng nhắc, thiếu tự nhiên. Giáo viên chưa vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học làm cho học sinh không hào hứng với tiết học. Giáo viên chưa dạy học theo hướng tiếp cận năng lực nên chưa phát huy được tính tích cực của học sinh. Giáo viên chưa động viên, khen thưởng kịp thời, chưa tạo hứng thú cho học sinh khi tham gia các hoạt động nên học sinh chỉ tham gia đối phó, không hào hứng. 2.2. Học sinh Trong thực tế giảng dạy cho thấy tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức còn thụ động, thiếu sự nhiệt tình, tích cực trong hoạt động nhóm. Một vài học sinh có biểu hiện ỷ lại, chưa mạnh dạn bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân. Đầu năm, tôi đã tiến hành khảo sát và có kết quả như sau: Học sinh thực sự hứng thú Học sinh không hứng thú TSHS TS % TS % 40 30 75 10 25 - Về đánh giá môn học: Đánh giá TS Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành HS SL % SL % SL % 40 29 72,5 11 27,5 0 0 8 Căn cứ việc quan sát hoạt động học tập của học sinh trong giờ toán và khảo sát kết quả học tập của các em, tôi nhận thấy học sinh chưa hứng thú trong giờ học toán. 3. Các biện pháp Biện pháp 1. Tạo hứng thú học tập cho học sinh bằng cách đưa vấn đề cần giải quyết vào nội dung một mẩu chuyện Tâm lí của học sinh tiểu học là tò mò, thích khám phá và rất thích nghe kể chuyện nên tôi đã đưa tình huống có vấn đề vào nội dung mẩu chuyện. Cách làm này tạo cho không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, giảm bớt áp lực học tập cho học sinh. Ví dụ trong bài "Tìm phân số của một số" toán 4 trang 135. Theo tôi, để giúp học sinh hứng thú với tiết học, giáo viên có thể đưa tình huống có vấn đề vào nội dung một mẩu chuyện sao cho thật tự nhiên như sau: “Đêm qua cô mơ một giấc mơ, cô lạc vào một hòn đảo, phong cảnh nơi đây thật đẹp. Đang mải mê ngắm cảnh thiên nhiên thì cô gặp vị chúa đảo. Ông tiếp đón cô rất long trọng, mở tiệc chiêu đãi với bao nhiêu của ngon vật lạ. Khi cô chuẩn bị ra về, ông sai người mang ra một đĩa có 15 quả đào tiên và bảo tặng 2 cô số đào đem về làm quà". Theo các em, cô được mấy quả đào? 3 Học sinh hào hứng nghe cô kể chuyện 9 Từ mẩu chuyện về một giấc mơ tôi đã nhẹ nhàng đưa vào đó tình huống 2 “Tìm của 15 quả đào”. Sau đó tôi tổ chức cho học sinh thao tác với đồ dùng 3 trực quan là các viên sỏi theo nhóm 4. Các nhóm thảo luận và thi đua xem ai tìm ra kết quả nhanh nhất. Qua quan sát tôi thấy 100% các em hào hứng tham gia thảo luận. Các em biết chia 15 quả thành 3 phần bằng nhau rồi lấy 2 phần. Với học sinh khá giỏi, các em giải thích cách làm rất khoa học, số đào được lấy là: 15 : 3 x 2 = 10 (quả) 10 Biện pháp 2. Tạo hứng thú học tập cho học sinh bằng cách đưa ra vấn đề cần giải quyết kích thích trí tò mò của học sinh Thành ngữ có câu “Đầu xuôi đuôi lọt”. Vâng, sự khởi đầu tốt đẹp thì cả quá trình sẽ suôn sẻ. Trong dạy học cũng vậy, hoạt động khởi đầu tiết học giáo viên khơi gợi được động cơ, tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đó là chìa khóa mở ra thành công cho cả tiết học. Vậy người giáo viên phải làm gì? Làm thế nào? Qua quá trình dạy học, tôi có kinh nghiệm như sau: Ở bước này người giáo viên cần kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú về bài học cho học sinh làm cho học sinh cảm thấy vấn đề cô giáo đưa ra rất gần gũi với mình, tạo cho lớp học không khí thoải mái, thân thiện. Ví dụ: Chúng ta thường cho rằng toán học là môn học khô khan. Vậy khi dạy toán ta có thể làm cho tiết học sinh động không? Học sinh hứng thú không? Câu trả lời chắc chắn là có. Tôi ví dụ khi dạy bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” giáo viên có thể chuẩn bị hai chiếc hộp có hai màu một đỏ, một hộp màu xanh thả kẹo vào trong. GV cho kẹo vào 2 chiếc hộp 11 Giáo viên hỏi: “Mỗi hộp có mấy cái kẹo?”, học sinh sẽ không trả lời được. Giáo viên khơi gợi tiếp “Tổng số kẹo hai hộp là 40 cái, hộp đỏ nhiều hơn hộp xanh 10 cái”. Bước tiếp theo giáo viên dẫn dắt học sinh biểu diễn trên sơ đồ, đi vào dạng toán cần học. Học sinh giải bài toán Biện pháp 3. Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua tổ chức trò chơi học tập Trò chơi học tập là một hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí. Thông qua trò chơi học tập học sinh có điều kiện "Học mà chơi, chơi mà học". Khi tham gia vào các trò chơi học tập học sinh sẽ được tưởng tượng và suy ngẫm, thử nghiệm các tình huống, cách lập luận để đạt kết quả cao. Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Trò chơi thứ nhất: - Tên trò chơi: Đúng hay sai 12 a. Mục đích: + Nhằm làm cho học sinh nắm vững hệ thống đo của các đại lượng cơ bản (khối lượng, thời gian, diện tích) ở lớp 4. + Rèn luyện, cũng cố mối quan hệ giữa các đơn vị đo và khả năng vận dụng linh hoạt cho học sinh. Thời gian chơi: 5 phút b. Chuẩn bị: Giáo viên chọn 2 đội, mỗi đội 3 em Giáo viên viết sẵn vào bảng nhóm với nội dung sau: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống. 36dm2 = 36cm2 400dm2 = 4000cm2 7m2 50dm2 = 7500cm2 8dm2 5cm2 = 805m2 25m2 = 250000cm2 9m2 3cm2 = 90003cm2 c. Cách chơi: Chơi theo kiểu “tiếp sức” với mỗi đội 3 em, khi giáo viên bắt đầu tính giờ, mỗi đội một em lên điền và giải quyết 2 ý trong 6 ý, làm xong về chỗ ngồi thì bạn khác lên “tiếp sức”. Nếu làm chưa xong mà hết giờ thì phải dừng lại ngay. Đội nào làm xong trước thời gian quy định và làm đúng thì thắng cuộc. Ví dụ: Khi dạy bài “Đề xi mét vuông”, giáo viên cho học sinh giải quyết bài số 5 (trang 64 – SGK Toán 4) dưới hình thức trò chơi đúng, sai như trên. Lưu ý: Trò chơi này có thể thiết kế và vận dụng cho các bài tập có nội dung về chuyển đổi đơn vị đo thời gian, khối lượng, cụ thể như bài: Yến, Tạ, Tấn (trang 23). Bảng đơn vị đo khối lượng (trang 24). Giây, thế kỉ (trang 25), luyện tập (trang 26), mét vuông (trang 64), ki lô mét vuông (trang 99), luyện tập chung (trang 144, các bài “ôn tập về đại lượng” cuối năm của sách giáo khoa Toán 4. 13 Trò chơi thứ hai: Tên trò chơi: Thế kỉ thứ mấy? Thời gian: 5 phút. a. Chuẩn bị: Giáo viên chọn 2 đội, mỗi đội 6 học sinh Giáo viên chuẩn bị sẵn nội dung câu hỏi vào hai vào bảng nhóm cho 2 đội, nội dung như sau: Năm 1945 thuộc thế kỉ ..... Năm 1010 thuộc thế kỉ ..... Năm 40 thuộc thế kỉ ..... 1 năm rưỡi = ......... tháng năm = ......... tháng thế kỉ = ....... năm b. Cách chơi: Hai đội tổ chức thi chơi theo kiểu “đồng đội”, cả lớp cổ vũ. Khi giáo viên bắt đầu tính giờ, mỗi đội cử một bạn lên điền 1 ý, khi bạn thứ nhất làm xong về cuối hàng thì bạn thứ hai tiếp tục lên điền, lần lượt cho đến bạn thứ 6. Hết giờ hai đội phải dừng lại ngay. Đội nào điền đúng nhiều hơn thì thắng cuộc. Học sinh hứng thú khi đội mình thắng 14 Biện pháp 4. Tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực bằng cách xây dựng kiến thức dựa trên vốn hiểu biết của học sinh, tạo ra các tình huống có vấn đề, gắn bài học với thực tế Để tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh, khi hình thành kiến thức mới, tôi thường yêu cầu học sinh gấp sách giáo khoa lại. Hình thành kiến thức dựa vào vốn hiểu biết của học sinh. Thay đổi dữ kiện bài toán, nâng cao độ khó khi học sinh đã làm được những bài cơ bản. Gắn bài toán vào thực tế để học sinh dễ hiểu. Ví dụ 1: Trong bài: Phép cộng Sách giáo khoa hướng dẫn học sinh cách cộng nhưng tôi không cho học sinh mở sách giáo khoa mà làm như sau: Bước 1: Yêu cầu 2 em học sinh, mỗi em tìm cho cô một số có 4 chữ số, rồi yêu cầu học sinh thực hiện cá nhân phép cộng hai số mà hai bạn ngồi cạnh nhau nghĩ ra. Cho học sinh chia sẻ cặp đôi về cách thực hiện phép cộng đó. Cho học sinh chia sẻ trước lớp. Bước 2: Tôi yêu cầu học sinh giữ nguyên 2 số hạng và xóa kết quả của phép tính vừa thực hiện đồng thời yêu cầu học sinh thêm 1 chữ số bất kì vào 15 cuối mỗi số hạng trên và thực hiện phép cộng đó. Như vậy học sinh đã có phép cộng hai số có 5 chữ số. Bước 3: Cho học sinh chia sẻ cặp đôi. Bước 4: Cho học sinh chia sẻ trước lớp. Bước 5: Học sinh so sánh phép cộng đã học ở lớp 3 với phép cộng ở lớp 4, rồi rút ra cách cộng hai số có 5 chữ số, 6 chữ số. Học sinh chia sẻ cặp đôi, chia sẻ trước lớp Với cách làm đó, học sinh rất hào hứng phát huy được năng lực tự học và giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, hợp tác. Ví dụ 2: Trong bài “Tìm số trung bình cộng”, để hình thành cách tìm số trung bình cộng, tôi lấy luôn ví dụ thực tế ở trường của mình để thành bài toán 16 như sau: “Lớp 4A có 40 học sinh, lớp 4E có 38 học sinh. Hỏi trung bình mỗi lớp có bao nhiêu học sinh?” Với cách gắn bài học vào thực tế như vậy, học sinh thấy dễ hiểu và rất hào hứng để tìm ra kết quả. Ví dụ 3: Sau khi cho học sinh làm xong bài 3 (SGK Toán - Trang 148) 4 Tổng của hai số là số lớn nhất có hai chữ số. Tỉ số của hai số đó là . Tìm hai 5 số đó. Tôi sẽ hỏi học sinh nếu cô thay tổng hai số là số lẻ lớn nhất có ba chữ số thì kết quả bài toán như thế nào? Các em suy nghĩ và làm bài. Với các làm này học sinh cũng rất tích cực và thi đua làm để tìm ra kết quả. Biện pháp 5. Tạo hứng thú học tập bằng cách tổ chức nhiều hình thức học tập Tổ chức nhiều hình thức học tập trong một tiết học là vô cùng quan trọng để học sinh không bị nhàm chán. Khi thấy hình thức học tập này mà học sinh không còn hứng thú nữa thì giáo viên cần linh hoạt chuyển sang hình thức học tập khác. Trong các tiết học, tôi thường xuyên cho học sinh chia sẻ cặp đôi, chia sẻ trước lớp, hướng dẫn học sinh cách đặt câu hỏi cho bạn, đặt nhiều câu hỏi Vì sao?, Tại sao? Tạo cơ hội để các em được nói, được thể hiện bản thân. Giáo 17 viên cần chấp nhận tất cả các câu trả lời của học sinh, không chê học sinh khi trả lời sai. Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy nếu như chỉ cho các em hoạt động cá nhân, cô hỏi, trò trả lời thì học sinh rất mau chán nhưng khi cho các em được chia sẻ cặp đôi, chia sẻ trước lớp thì các em rất hào hứng. Học sinh hoạt động cá nhân, chia sẻ cặp đôi, chia sẻ trước lớp Đặc biệt là các em rất thích được đi hỗ trợ, giúp đỡ các bạn khác. Ở lớp tôi, những bạn làm bài nhanh, sau khi chia sẻ với các bạn trong nhóm bàn xong, sẽ mang bài lên cho cô kiểm tra. Em nào làm đúng sẽ đi hỗ trợ các bạn ở nhóm khác. Với cách làm như vậy học sinh rất hào hứng, thi đua làm bài nhanh để 18 được đi hỗ trợ các nhóm khác. Qua đó học sinh phát triển được năng lực giao tiếp hợp tác, phát triển phẩm chất yêu thương, biết giúp đỡ bạn. Học sinh đi trợ giúp các nhóm khác Biện pháp 6. Tạo hứng thú học tập bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết học Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang chuyển mình sang thời kỳ công nghệ 4.0. Sự xuất hiện của các công nghệ hiện đại như smartphone hay Internet đã tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, ngành nghề. Để thích nghi với hiện tại cũng như đáp nhu cầu học tập ngày càng cao, ngành giáo dục buộc phải chuyển đổi theo hướng công nghệ số. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học càng được đề cao mạnh mẽ. Trong mỗi tiết học, tùy thuộc vào nội dung tôi sẽ nghiên cứu đưa phần ứng dụng công nghệ thông tin vào lúc nào cho phù hợp. Có thể đưa vào phần khởi động để dẫn dắt vào bài mới, cũng có thể đưa vào phần luyện tập thực hành để chữa bài hoặc đưa vào cuối bài để củng cố. Qua thực tế áp dụng tôi thấy học sinh rất hào hứng, tích cực, tiếp thu bài nhanh. Ví dụ trong bài: Ôn tập phép tính với số tự nhiên Tôi cho học sinh chơi trò chơi “Em tập làm thủ môn” vào đầu tiết học để kiểm tra về dấu hiệu chia hết. Học sinh rất hào hứng tham gia trò chơi. Sau khi 19 tìm được các số ở các câu hỏi, tôi cho học sinh thực hiện phép tính với các số vừa tìm được. Như vậy học sinh chuyển sang bài mới một cách rất tự nhiên, không mất nhiều thời gian mà học sinh lại hứng thú. Học sinh hứng thú với tiết học Biện pháp 7. Tạo hứng thú học tập bằng cách phân loại trình độ học sinh Nhằm giúp các em học sinh yếu tự tin trình bày ý kiến, các em học sinh giỏi, khá, có điều kiện phát huy khả năng của mình; đồng thời, để giáo viên dễ dàng giúp đỡ các em học sinh yếu, gợi mở cho học sinh giỏi, khá tôi đã tổ chức cho học sinh trong lớp học thành các nhóm đối tượng. 20 Các em có khả năng học nhanh hơn, nắm khá tốt kiến thức cơ bản ở lớp dưới tôi xếp thành nhóm 1. Các em có khả năng tiếp thu chậm hơn tôi xếp thành nhóm 2. Nhóm này tôi sắp xếp các em ngồi 2 bàn đầu của 2 dãy nhằm dễ dàng giúp đỡ các em hơn. Sau khi dạy xong kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, tôi sẽ cho các em nhóm 1 thêm bài tập nâng cao để phát huy hết khả năng cũng như tư duy sáng tạo của các em. Ngoài ra tôi còn tranh thủ giờ truy bài hay cuối buổi bồi dưỡng thêm Toán-Tiếng Anh hay đấu trường Toán học VioEdu. Còn đối với các em nhóm 2, tôi sẽ xem em nào chưa nắm chắc kiến thức sẽ củng cố thêm cho các em. Với cách làm như vậy tôi thấy học sinh khá giỏi sẽ phát huy hết khả năng của mình, còn các em học yếu được học kiến thức vừa sức sẽ không bị chán và sợ môn Toán. Biện pháp 8. Động viên, khen thưởng kịp thời, tạo không khí lớp học vui tươi Học sinh tiểu học rất thích được khen, được tuyên dương, được nhận phần thưởng. Phần thưởng của các em có thể không thiên về vật chất mà thiên về tinh thần, tượng trưng. Chính vì nắm bắt được đặc điểm tâm lí này nên giáo viên có thể đưa ra các hình thức khen như bằng lời nói, nhận xét, bằng việc thưởng bông hoa điểm tốt, thư khen cuối tuần. Tôi đã chọn cách khen từng cá nhân, tổ bằng cho bông hoa điểm tốt mỗi lần các em trả lời hoặc làm đúng bài tập. Các em thật sự rất hứng thú, thi đua làm bài nhanh để được giáo viên gọi lên bảng thực hiện để lấy hoa về cho tổ mình. Cuối tuần tôi sẽ tổng kết số lượng hoa điểm tốt để thưởng cho tổ bông hoa to cắm ở bảng thi đua cuối lớp. Bên cạnh đó sẽ chọn ra các bạn có tiến bộ, chăm ngoan học tốt để được khen, thưởng hoa. Không chỉ khen bằng lời trước lớp mà tôi còn khen bằng nhận xét trong vở khi các em làm bài tốt hoặc có tiến bộ, dù là tiến bộ nhỏ nhất.
Tài liệu đính kèm: