Phân biệt và sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

Phân biệt và sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

 1. Lý do chọn đề tài:

 Năm học 2010 – 2011 này đã gần chục năm dạy Tiếng Việt theo chương trình sách giáo khoa lớp 4 mới, qua trải nghiệm cho thấy kiến thức vẫn nhiều và khó đối với học sinh . Tuy nhiên, mấy năm gần đây khắc phục bằng cách dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng và sách giáo khoa mới đã biên soạn theo quan điểm tích hợp nên các phân môn của Tiếng Việt như: Tập đọc, chính tả, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện có sự gắn bó mật thiết với nhau xoay quanh các trục chủ điểm.

 Thực tế cho thấy học sinh hay nhầm lẫn 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

 Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phân biệt và sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì ?

 2. Mục đích:

 Qua tiết ôn tập Tiếng Việt tuần 28” nhằm cung cấp một phần tri thức quan trọng cho học sinh về câu kể để các em có thể:

ã Kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc mà mình mong muốn.

ã Nói lên được ýý kiến, tâm tư tình cảm của mình một cách hiệu quả nhất.

việc cung cấp kiến thức và truyền đạt kỹ năng của các phân môn phải thực sự hỗ trợ cho nhau mới hoàn thành được phân môn Tiếng Việt là:

- Hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi thông qua việc dạy và học để góp phần rèn luyện thao thác tư duy.

- Củng cố cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con người.

- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hinh thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

doc 17 trang Người đăng dtquynh Ngày đăng 17/05/2016 Lượt xem 19177Lượt tải 30 Download
Bạn đang xem tài liệu "Phân biệt và sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. phần mở đầu
 1. lý do chọn đề tài:
 Năm học 2010 – 2011 này đã gần chục năm dạy Tiếng Việt theo chương trình sách giáo khoa lớp 4 mới, qua trải nghiệm cho thấy kiến thức vẫn nhiều và khó đối với học sinh . Tuy nhiên, mấy năm gần đây khắc phục bằng cách dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng và sách giáo khoa mới đã biên soạn theo quan điểm tích hợp nên các phân môn của Tiếng Việt như: Tập đọc, chính tả, tập làm văn, luyện từ và câu, kể chuyện có sự gắn bó mật thiết với nhau xoay quanh các trục chủ điểm. 
 Thực tế cho thấy học sinh hay nhầm lẫn 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?
 Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Phân biệt và sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể: ai làm gì? ai thế nào? ai là gì ? 
 2. Mục đích:
 Qua tiết ôn tập Tiếng Việt tuần 28” nhằm cung cấp một phần tri thức quan trọng cho học sinh về câu kể để các em có thể:
Kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc mà mình mong muốn.
Nói lên được ý‏‎ kiến, tâm tư tình cảm của mình một cách hiệu quả nhất.
việc cung cấp kiến thức và truyền đạt kỹ năng của các phân môn phải thực sự hỗ trợ cho nhau mới hoàn thành được phân môn Tiếng Việt là:
Hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi thông qua việc dạy và học để góp phần rèn luyện thao thác tư duy.
Củng cố cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con người.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hinh thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát:
* Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 4. 
* Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 4, trường Tiểu học Phú Hoà B, Lương Tài, Bắc Ninh.
* Phương pháp nghiên cứu:
 Chủ động lập kế hoạch giảng dạy trên lớp thông qua các khâu:
 Giáo viên phải nghiên cứu kỹ bài dạy để hiểu rõ mục đích yêu cầu của tiết học.
 Dựa vào sách giáo viên, tài liệu tham khảo và tình hình nhận thức của học sinh lớp mình để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất sao cho học sinh chủ động lĩnh hội được nội dung bài học.
 Đây là khâu rất quan trọng để hỗ trợ cho việc dạy và học nên giáo viên phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ xem sử dụng đồ dùng gì, đưa ra vào lúc nào, nhằm mục đích gì để đạt hiệu quả nhất.
 Công việc của học sinh: 
 - Học sinh nắm vững bài cũ có liên quan đến bài mới.
 - Có sự chuẩn bị bài mới trước ở nhà (tiết này tôi dặn học sinh chuẩn bị trước bài tập 1 để các em có thời gian xem lại các bài về 3 kiểu câu kể đã học).
 - Trong giờ học, học sinh phải có thói quen hưởng ứng linh hoạt khi tham gia các hoạt động học bằng những hình thức khác nhau tùy từng nội dung bài học như:
 - Làm việc độc lập, ghi các bài tập, câu hỏi dễ, cụ thể.
 - Làm việc theo nhóm khi bài tập khó và cần trao đổi.
 -Làm việc theo lớp khi trình bày kết qủa...
4. Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện:
 - Nghiên cứu lí thuyết thông qua sách giáo khoa, tài liệu tham khảo giáo viên, thực nghiệm trên lớp 4.
 - Phạm vi thực hiện trên lớp 4A và 4B, trường Tiểu học Phú Hoà B.
 - Thực hiện đề tài này vào giữa học kỳ II, năm học 2009- 2010.
5. Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm:
Hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi thông qua việc dạy và học để góp phần rèn luyện thao thác tư duy.
Củng cố cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con người.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hinh thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
II. Phần nội dung( Trọng tâm)
 Chương 1: Cơ sở khoa học của sáng kiến kinh nghiệm:
 1.Cơ sở lí luận:
 - Dựa trên cơ sở nghiên cứu sách giáo khoa lớp 4 hiện hành, sách giáo viên, sách tham khảo .
 - Dựa trên cơ sở dạy học, dạy thực nghiệm lớp 4, kinh nghiệm bản thân và đồng nghiệp.
 - Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Tiếng Việt 4, đặc biệt là Luyện từ và câu.
 - Có sử dụng phương pháp dạy học hiện đại : sử dụng giáo án điện tử .
 2. cơ sở thực tiễn:
 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới chương trình và thay sách giáo khoa của lớp 4 năm nay là đổi mới phương pháp dạy và học:
Chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hoá hoạt động của học trò.
Trong đó, giáo viên là người tổ chức các hoạt động của học sinh. Mỗi học sinh đều phải được hoạt động, được bộc lộ mình và được phát triển.
Vì lẽ đó, cũng như các phân môn khác, phân môn “Luyện từ và câu” của lớp 4 không trình bày các kiến thức có sẵn mà xây dựng các hệ thống câu hỏi và bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt.
 SGK lớp 4 nói chung đặc biệt với sách Tiếng Việt nói riêng là sự kế thừa các kiến thức, kỹ năng của các lớp dưới nhưng ở mức độ cao hơn, sâu hơn. Vì vậy, trong quá trình soạn giáo án, chuẩn bị tiết dạy giáo viên phải nắm chắc “Mục đích yêu cầu” của phân môn và của từng tiết học để không xa đà và đảm bảo nội dung kiến thức cũng như thời gian của tiết dạy một cách tốt nhất có thể.
 Chương 2: Thực trạng vấn đề nội dung sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến: Tuần 28 của học kỳ II lớp 4 là tuần ôn tập của phân môn Tiếng Việt. Qua các tiết thực dạy, tôi nhận thấy các tiết ôn tập đã giúp học sinh hệ thống hoá được kiến Tiếng Việt một cách khá rõ ràng, logic. Tuy nhiên ở tiết ôn tập thứ 6 – là tiết ôn về 3 kiểu câu kể: “Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?” tôi thấy học sinh tuy đã được học nội dung này ở tiết 12 trước đó nhưng các em vẫn lúng túng khi phân biệt 3 kiểu câu dù mỗi kiểu câu trên đều có đặc điểm cấu trúc riêng và mỗi kiểu câu thích hợp với một kiểu câu khác nhau nhưng học sinh vẫn chưa phân biệt rõ ràng để nhận biết 3 kiểu câu này một cách nhanh và chính xác.
Trao đổi với chuyên môn tôi thấy học sinh các lớp khác cũng vậy. Và tôi nhận ra l‏‎ do chính là các em chưa có sự so sánh về mặt ngữ pháp: 3 kiểu câu trên khác nhau chủ yếu ở vị ngữ. Vì vậy, khi dạy riêng từng kiểu câu ở các tiết học cung cấp kiến thức mới, học sinh phải được nắm vững vị ngữ của cá loại câu này do từ loại này đảm nhiệm và nó có chức năng gì?
Tuy nhiên, phải đến “tiết 6 ôn tập – tuần 28” tôi thấy đây mới là tiết để giáo viên giúp học sinh hệ thống kiến thức 3 kiểu câu này một cách thuận lợi nhất. Nhưng tiến hành thế nào để đạt hiệu quả? Tôi đã suy nghĩ rất kỹ và dựa trên cơ sở của “sách giáo viên” cũng như tình hình cụ thể của lớp mình để soạn giáo án và dạy tiết này theo phương pháp dưới đây. Qua thực tế giờ học, tôi thấy học sinh nắm bài một cách chắc chắn và dễ dàng hơn.
 ương 3ccI
 Chương 3: Những giải pháp mang tính khả thi
 QUá TRìNH TRIểN KHAI
 1.Công việc của giáo viên: Chủ động lập kế hoạch giảng dạy trên lớp thông qua các khâu:
 * Khâu soạn bài
Giáo viên phải nghiên cứu kỹ bài dạy để hiểu rõ mục đích yêu cầu cần đạt của tiết học.
Dựa vào sách giáo viên, tài liệu tham khảo và tình hình nhận thức của học sinh lớp mình để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất sao cho học sinh chủ động lĩnh hội được nội dung bài học.
 * Khâu chuẩn bị dạy học:
 Soạn giáo án điện tử như phần đồ dùng dạy học.
Đây là khâu rất quan trọng để hỗ trợ cho việc dạy và học nên giáo viên phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ xem sử dụng đồ dùng gì, đưa ra vào lúc nào, nhằm mục đích gì để đạt hiệu quả nhất.
 2. Công việc của học sinh: 
Học sinh nắm vững bài cũ có liên quan đến bài mới.
Có sự chuẩn bị bài mới trước ở nhà (tiết này tôi dặn học sinh chuẩn bị trước bài tập 1 để các em có thời gian xem lại các bài về 3 kiểu câu kể đã học).
Trong giờ học, học sinh phải có thói quen hưởng ứng linh hoạt khi tham gia các hoạt động học bằng những hình thức khác nhau tùy từng nội dung bài học như:
Làm việc độc lập, ghi các bài tập, câu hỏi dễ, cụ thể.
Làm việc theo nhóm khi bài tập khó và cần trao đổi.
Làm việc theo lớp khi trình bày kết qủa...
Giáo án
Bài: Ôn tập Tiếng Việt lớp 4 ( tiết 6 – tuần 28)
 (Phân biệt 3 kiểu câu kể: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?)
 1. Mục đích yêu cầu: Giúp học sinh:
 * Nắm được định nghĩa và nêu được ví dụ để phân biệt 3 kiểu câu kể đã học: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?(BT1).
 * Nhận biết được 3 kiểu câu kể trong đoạn văn và nêu được tác dụng của chúng( BT 2); Bước đầu viết được đoạn ngắn về một nhân vật trong bài tập đọc đã học, trong đó có sử dụng ít nhất 2 trong số 3 kiểu câu kể đã học( BT3) .
 * HS khá, giỏi viết được đoạn văn ít nhất 5 câu, có sử dụng 3 kiểu câu kể đã học( BT3).
 2. Đồ dùng dạy học:
 + Máy chiếu ghi sẵn lời giải đúng bài tập 1.
 + 8 tờ giấy men cho học sinh làm theo nhóm bài tập 1.
 + Máy chiếu ghi sẵn đoạn văn bài tập 2.
 3. Các hoạt động dạy và học chủ yếu:
Thời gian
Nội dung
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
1 phút
I/ Giới thiệu bài
-Giáo viên nêu mục đích yêu cầu tiết học
- Ghi đầu bài lên bảng
 -Học sinh lắng nghe
-Ghi vở - Mở sách giáo khoa trang 98 
15 phút
II/ Hướng dẫn học sinh 
ôn tập
 Bài tập 1
-Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ bài tập và xác định yêu cầu của bài
- Giáo viên nhắc học sinh xem lại 3 kiểu câu kể ở vở soạn để lập bảng đúng
 -Giáo viên phát phiếu cho các nhóm
 - Giáo viên mời đại diện các nhóm lên trình bày kết quả.
Giáo viên nhận xét, tuyên dương nhóm làm tốt.
- Bật máy chiếu lời giải đúng . Lưu ‏‎ý để học sinh thấy rõ đặc điểm khác nhau của 3 kiểu câu qua bảng so sánh dưới đây: 
-Bài yêu cầu nêu định nghĩa và ví dụ để phân biệt 3 kiểu câu kể
- Học sinh dựa vào vở chuẩn bị bài, xem lại và thảo luận nhóm
- Nhóm trưởng giao cho mỗi bạn trong nhóm viết về một loại câu kể vào bảng so sánh
- Học sinh theo dõi, nhận xét và bổ sung bài nhóm bạn
- Học sinh quan sát, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của cô giáo.
 Kiểu câu
Đặc điểm
Ai làm gì?
Ai thế nào?
Ai là gì?
a/ Chủ ngữ
(CN)
- CN trả lời cho câu hỏi: Ai? Con gì? (ít khi trả lời cho câu hỏi “Cái gì ?” trừ khi CN được nhân hoá)
- CN chỉ người, động vật, ít khi chỉ bất động vật
- CN trả lời cho câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?
- CN chỉ người, động vật, bất động vật
- CN trả lời cho câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?
- CN chỉ người, động vật, bất động vật
b/ Vị ngữ
(VN)
- VN trả lời cho câu hỏi: Làm gì?
- VN kể về hoạt động của người, động vật.
- VN là động từ (hoặc cụm động từ chỉ hoạt động).
- VN trả lời cho câu hỏi: Thế nào?
- VN miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái.
- VN là tính từ ( hoặc động từ chỉ trạng thái)
- VN là cụm chủ - vị
VD: Bàn này chân/ đã gãy.
 CN VN
-VN trả lời cho câu hỏi: Là gì?
- VN thường dùng để giới thiệu nên là tổ hợp của từ “là” với các danh từ, động từ hoặc tính từ.
- VN thường là danh từ hoặc cụm danh từ.
/ Chức năng
-Dùng để kể về hoạt động của người, động vật (hoặc tĩnh vật được nhân hoá)
 VD: Em// quét nhà, lau nhà và rửa cốc chén.
-Dùng để miêu tả đặc điểm tính chất hoặc trạng thái của người, vật.
 VD: Vườn cây// xanh um tùm
 Mẹ// rất vui.
 ĐT chỉ trạng thái
-Dùng để định nghĩa, giới thiệu, nhận xét.
 VD: Bạn Lan// là lớp trưởng.
 DT
tá dụng của 3 kiểu câu kể trong 1 đoạn văn.
 :
Thời gian
Nội dung
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
10 phút
Bài tập 2
- Bật MC đoạn văn.
- Yêu cầu học sinh đọc xem có phải là câu kể không? Câu kể kiểu gi? Và nêu tác dụng của mỗi kiểu câu ấy.
- Giải nghĩa từ: “Cây mía đất” (là loại cỏ dài, có đốt nhỏ, vị hơi ngọt)
Chốt ý đúng theo bảng sau:
- Đọc đoạn văn.
- Thảo luận nhóm đôi
 Trả lời các câu hỏi của cô giáo
Nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn.
- Lắng nghe.
Câu
Kiểu câu
Tác dụng
 Câu 1: Bây giờ tôi còn là một chú bé lên mười.
 Câu 2: Mỗi lần tôi đi cắt cỏ, bao giờ tôi cũng tìm bứt một nắm cây mía đất, khoan khoái nằm xuống cạnh sọt cỏ đã đầy và nhấm nháp từng cây một.
 Câu 3: Buổi chiều ở làng ven sông yên tĩnh một cách lạ thường.
Ai là gì?
Ai làm gì?
Ai thế nào?
Giới thiệu về nhân vật “tôi)
Kể về các hoạt động của nhân vật “ tôi”
Kể về đặc điểm, trạng thái của cảnh vật: Buổi chiều ở làng ven sông.
Thời gian
Nội dung
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
8 phút
Bài tập 3
GV nêu yêu cầu của bài tập: Viết một đoạn văn ngắn nói về Bác sĩ Ly( Bài tập đọc : “Khuất phục tên cướp biển”- Tuần 25) có dùng cả 3 kiểu câu kể
Lắng nghe
2 phút
III/ Củng cố, dặn dò
- Giáo viên nêu yêu cầu của bài tập: Viết một đoạn văn ngắn nói về Bác sĩ Ly (Bài tập đọc:”Khuất phục tên cứơp biển” – Tuần 25) có dùng cả 3 kiểu câu kể:
 Câu kể: Ai là gì? để giới thiệu bác sĩ Ly.
 Câu kể: Ai làm gì? để kể về hành động của bác sĩ Ly.
 Câu kể: Ai thế nào? để nói về đặc điểm, tính cách của bác sĩ Ly.
- Giáo viên gọi học sinh trình bày đoạn văn 
- Giúp học sinh nhận xét bài bạn về nội dung đoạn văn, các kiểu câu kể và từ liên kết.
- Tuyên dương, cho điểm, khuyến khích bài viết tốt.
- Nhận xét tiết học.
- Về nhà học kỹ bảng so sánh bài tập 1.
- Làm thử bài tập tiết 7, tiết 8 để tiết sau kiểm tra giữa học kỳ II.
- Lắng nghe.
 - Viết đoạn văn vào vở Tiếng Việt => thêm các từ ngữ cần thiết để liên kết các câu thành đoạn văn hoàn chỉnh.
- Học sinh nối tiếp nhau trình bày đoạn văn của mình
- Nhận xét bài bạn.
III. phần kết luận 
 1. Hiệu QUả thiết thực :
 Qua thực dạy tiết này tôi nhận thấy:
 - Đa số học sinh đều phân biệt rõ 3 kiểu câu kể thông qua bảng so sánh của bài tập 1.
 - 100% học sinh trong lớp vận dụng kiến thức của bài tập 1 để làm đúng bài tập 2.
 - Nhiều vướng mắc của các em được chính các em tháo gỡ dưới sự dẫn dắt của cô giáo.
 Ví dụ: Có em hỏi câu:
Ông em // trồng cây chuối trong vườn. ( câu “Ai làm gi?”)
Cây chuối // trồng trong vườn. ( câu “ Ai thế nào ?”)
 Tại sao vị ngữ đều là động từ “trồng” mà lại thuộc 2 kiểu câu khác nhau?
 Tôi gợi ý đê học sinh nhận thấy sự chuyển đổi ý nghĩa từ động từ “trồng” – ở câu 1 là động từ chỉ hoạt động sang động từ “trồng” – ở câu 2 là động từ chỉ trạng thái.
 - Khảo sát: 25/25em . Đạt 24/ 25 = 96%
 - Qua việc cung cấp các kiểu cấu trúc câu gắn với chức năng giao tiếp ở tiết ôn tập này, học sinh phát triển kỹ năng nói và viết Tiếng Việt đúng và hay hơn. Đó cũng chính là mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 4.
2. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của SKKN:
 - Sử dụng linh hoạt 3 kiểu câu kể : Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? trong làm bài, giao tiếp , làm văn . 
 - Phân biệt được 3 kiểu câu kể trên.
 - Nắm được 3 kiểu câu và đặc điểm của từng kiểu câu
 - Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học có sử dụng trình chiếu trên máy tính.
 - Đề cập sâu kiến thức , dễ tiếp thu, dễ phân biệt các kiểu câu trên.
	Phú hoà, ngày 28 tháng 10 năm 2010
	Người viết
	Nguyễn Xuân Vang
IV. Phụ lục:
 1. SGK Tiếng Việt 4, tập 2- Vở bài tập.
 2. Sách tham khảo giáo viên lớp 4.
 3. Giáo dục kĩ năng sống lớp 4.
 4. Giáo án in Tiếng Việt lớp 4- tập 2.
 5. Sách chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 4
Phần mục lục
Phần mở đầu.
Lý do chon đề tài: Luyện từ và câu.
Mục đích.
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu.
Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện
ĐÃng góp về mặt khoa học .
Phần nội dung( trộng tâm).
 Chương1: Cơ sở khoa học của SKKN
Cơ sở lý luận.
Cơ sở thực tiễn.
 Chương 2: Thực trạng vấn đề mà nội dung SKKN đề cập :
 Chương 3: Những giải pháp mang tính khả thi.
 Quá trình triển khai:
Công việc của giáo viên.
Công việc của học sinh.
Soạn giáo án chi tiết.
Phần kết luận:
Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến SKKN.
Hiệu quả thiết thực áp dụng vào lớp 4.
Phụ lục
Quy ước viết tắt
	 SGK: sách giáo khoa
	 SKKN: sáng kiến kinh nghiệm
	 HS: học sinh
	 GV: giáo viên
đơn vị: trường tiểu học phú hoà b
Tổ 4 + 5
**********************
Sáng kiến kinh nghiệm cấp trường
*******
Luyện từ và câu
Tên đề tài: 
 PHÂN BIệT Và Sử DụNG LINH HOạT 3 KIểU CÂU Kể: 
 AI LàM Gì ? AI THế NàO ? AI Là Gì ?
 QUA TIếT 6 - ÔN TậP TIếNG VIệT LớP 4 - TUầN 28
 Chủ nhiệm sáng kiến kinh nghiệm: Nguyễn Xuân Vang
 Chức vụ: Giáo viên
 Đơn vị: Trường Tiểu học Phú Hoà B
 Ngày 12 tháng 10 năm 2010

Tài liệu đính kèm:

  • docGiao an(37).doc