Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn - giảng ở trường Tiểu học - Nguyễn Văn Xung

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn - giảng ở trường Tiểu học - Nguyễn Văn Xung

Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội đối với nhà trường cùng với sự cố gắng chung của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan trọng. Để có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm nêu trên vào công tác dạy học của mình, tôi có một số đề xuất như sau:

- Đối với ngành : Đề nghị có cơ chế chính sách đào tạo đội ngũ giáo viên phù hợp hơn nữa, có thể nghiên cứu để đào tạo giáo viên dạy chuyên một số bộ môn.

- Đối với chính quyền các cấp: Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư CSVC với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

- Đối với các đơn vị trường học: Cần coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng soạn bài và thi công trên lớp của giáo viên, coi đây là biên pháp nâng cao chất lượng giáo dục bởi hai vấn đề này thực chất có tác động tương hỗ lẫn nhau nếu không muốn nói là một.

 

doc 22 trang Người đăng lilyphan99 Ngày đăng 01/03/2022 Lượt xem 100Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn - giảng ở trường Tiểu học - Nguyễn Văn Xung", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GD & ĐT LƯƠNG SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀ SƠN A
SÁNG KIẾN 
Năm học 2007-2008
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO 
CHẤT LƯỢNG SOẠN - GIẢNG
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Văn Xung
CHỨC VỤ:	 Hiệu trưởng
ĐƠN VỊ : Trường tiểu học Hoà Sơn A	
LƯƠNG SƠN, THÁNG 05 NĂM 2008
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
	Quá trình dạy học bao gồm hệ thống những tác động từ phía người dạy (giáo viên) đến người học (học sinh), nhằm làm cho học sinh tích cực và chiếm lĩnh tri thức, hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực phù hợp với nhu cầu ngày một cao của xã hội hiện đại.
	Thiết kế nội dung (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một khâu đột phá quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên bao giờ cũng dành một thời gian thích đáng để thiết kế bài. Muốn dạy học có kết quả cần thiết kế chu đáo bài học. Khi thiết kế bài học cần chú trọng đến nhiều khía cạnh tác động đến quá trình dạy học như: Đặc điểm lứa tuổi học sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện kỹ thuật đồ dùng trực quan, cơ sở vật chất trường lớp... Từ đó có định hướng rõ rệt để xác định những tiêu chí cụ thể cần đạt cũng như cách thức (sự lựa chọn phương pháp phù hợp) để đạt được mục tiêu bài dạy.
	Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị bài dạy mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau cũng như yếu tố chủ quan không thể tránh khỏi. Đó chính là phụ thuộc vào năng lực sư phạm, sự tự tin, tính sáng tạo trong sử lý các tình huống sư phạm...
	Trong một vài năm trở lại đây xu hướng đổi mới công tác soạn giảng ngày càng trở nên bức xúc và cần thiết. Một trở ngại không nhỏ cản trở quá trình đổi mới việc soạn giáo án và thực thi giờ dạy trên lớp chính là do thói quen ngại đổi mới của một bộ phận không nhỏ giáo viên. Thực tế cho thấy nhiều giáo viên muốn giữ nề nếp soạn giáo án theo cách truyền thống mà ở đó giáo án chỉ là sự ghi chép lại nội dung đã có ở sách giáo khoa mà không đưa ra các phương pháp dạy học thích ứng với từng giai đoạn học tập của học sinh. Sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thói quen dễ dãi trong soạn giảng, trình độ giáo viên còn nhiều bất cập. Hiện tượng thầy giảng trò nghe, trò chép vẫn là hiện tượng phổ biến, từ đó chất lượng giờ giảng cho hiệu quả thấp, không gây được hứng thú cũng như óc sáng tạo, tích cực hoạt động của trò.
	Từ cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy đã đặt ra nhiệm vụ tìm ra những giải pháp nào để nâng cao chất lượng Thiết kế kế hoạch bài học và giờ dạy là vấn đề cấp bách phải giải quyết, giúp cho anh chị em giáo viên ở trường Tiểu học đổi mới tư duy vào việc làm trong công tác soạn giảng của mình đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với trình độ nhận thức của tập thể giáo viên trong đơn vị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giáo dục. Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn giảng ở trường tiểu học” để nghiên cứu, áp dụng vào công tác quản lý của đơn vị, mong góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục ở địa phương.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Cơ sở khoa học:
Soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp. Đồng thời với việc soạn bài là sự chuẩn bị đồ dùng dạy học, thí nghiệm. Đó là hai loại công việc chủ yếu trước giờ lên lớp của giáo viên.
Hoạt động dạy và học trong trường tiểu học hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học. Vì vậy dễ hiểu rằng vì sao cả hiệu trưởng và giáo viên đều tập trung sự chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp với một mục đích là nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò riêng đối với giờ lên lớp. Trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp là người giáo viên. Quản lý thế nào để các giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là việc làm của hiệu trưởng.
	Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học ở trường tiểu học của người giáo viên là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống của trẻ. Trong những kĩ năng cần được rèn luyện cho học sinh thì quan trọng nhất là làm cho học sinh có được kĩ năng học tâp để thực hiện “Hình thành hoạt động học tập” - Hoạt động chủ đạo của các em trong thời kỳ này.
	Phát triển trí tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức, trước hết là phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hoạt động của học sinh. Ở học sinh tiểu học, trí tưởng tượng rất phong phú nhưng trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt trí tuệ (hoạt động tư duy) cho học tập chưa phát triển đến mức cần thiết. Cho nên dạy học chẳng những phải phát triển trí tưởng tượng của các em mà còn phải rèn luyện các thao tác tư duy để phát triển năng lực nhận thức, năng lực hoạt động khoa học, sáng tạo.
	Những nhiệm vụ dạy và học nói trên được thực hiện đồng thời và thống nhất với nhau trong quá trình dạy hoc. “Quá trình dạy và học là tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và học sinh, được giáo viên hướng dẫn. Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ sảo và trong quá trình đó, phát triển được năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hoá, lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan và hành vi cộng sản chủ nghĩa ” (ÊXiPôp).
	Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm của một quá trình dạy học và là hai hoạt động mang tính chất khác nhau. Song thống nhất với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò, dạy và học cùng lúc diễn ra trong những điều kiện vật chất - kĩ thuật nhất định.
Toàn bộ những vấn đề nêu trên đều liên quan chặt chẽ với nhau một cách biện chứng. Trong đó điều kiện tiên quyết để dạy tốt – học tốt là vấn để thiết kế kế hoạch bài học một cách chuẩn xác về kiến thức, tường minh về phương pháp, cách thức dạy học của người giáo viên; đồng thời với công việc đó là thi công bài giảng một cách linh hoạt, đảm bảo nội dung kiến thức và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Để tổ chức tốt khâu thiết kế và thi công của người giáo viên, vai trò hết sức to lớn của người cán bộ quản lý nhà trường là nắm bắt xu thế, khơi dậy tiềm năng và chỉ đạo có hiệu quả công việc hàng ngày của giáo viên.
2. Cơ sở thực tiễn:
a) Vài nét về đặc điểm chung của nhà trường:
	Trường Tiểu học Hoà Sơn A được tách ra từ trường Tiểu học Hoà Sơn, từ tháng 8 năm 1997, trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, kế thừa phát huy truyền thống nhiều năm liền là trường tiên tiến, Trường đã được công nhận là Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia năm 2006. 
	Trường Tiểu học Hoà Sơn A đóng trên địa bàn xã Hoà Sơn nằm giáp danh tỉnh Hà Tây, là địa phương có nhiều mặt thuận lợi về giao lưu kinh tế với đồng bằng Bắc bộ. Tuy vậy kinh tế của địa phương còn chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của mình. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng.
	Quy mô nhà trường vào loại trung bình so với các đơn vị bạn: Với tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên trong năm học 2007 - 2008 là 31 người, trong đó:	- Cán bộ quản lý: 02 người (01 nữ).
	- Nhân viên hành chính: 03 người (02 nữ).
	- Giáo viên: 26 người (có 02 giáo viên tiếng Anh, 01 giáo viên Hát nhạc, 01 giáo viên Mỹ thuật, 01 giáo viên thể dục).
	Trong đó:
- Trình độ Đại học: 09 cán bộ giáo viên.
	- Trình độ Cao đẳng: 09 giáo viên.
	- Còn lại 100% đạt trình độ trung cấp sư phạm.
	* Phân loại giáo viên năm học 2006 - 2007 như sau:
	- Giáo viên giỏi cấp tỉnh:	 0
	- Giáo viên giỏi cấp huyện:	 04
	- Giáo viên giỏi cấp trường:	12
	* Xếp loại thi đua năm học 2006 - 2007 như sau:
	- Chiến sỹ thi đua cơ sở:	 02
	- Lao động giỏi:	 13
	Năm học 2006 – 2007 có 10 lớp và 265 học sinh trong đó 130/265 học sinh là dân tộc. Nhìn chung điều kiên học tập của học sinh khá tốt, chỉ có một bộ phận nhỏ còn gặp khó khă do phụ huynh chưa quan tâm đúng mức vì nhà nghèo. Tuy vậy đa số học sinh ngoan ngoãn, lễ phép có ý thức học tập tốt.
	Với tình hình như trên đã nêu nhà trường đứng trước những thử thách vô cùng to lớn: Đó là làm gì và làm như thế nào để việc soạn giảng của giáo viên đạt được kết quả cao, đáp ứng được ngày một cao của xã hội.
	Qua kiểm tra hồ sơ giáo án và dự giờ giáo viên, chúng tôi thấy tuy có nhiều cố gắng nhưng kết quả chưa được là bao. Trước hết xin nêu thực trạng thiết kế kế hoạch bài học của giáo viên.
b) Thực trạng thiết kế kế hoạch bài học (soạn bài):
	Trong năm học 2006 – 2007 qua kiểm tra kế hoạch bài học hàng tuần và đột xuất cũng như tổng kiểm tra hồ sơ bốn lần trong năm học, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt ở các nhóm giáo viên khác nhau. Đối với giáo viên tuổi cao hoặc hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn thì sự đầu tư cho soạn bài rất hạn chế. Việc lập kế hoạch bài học chỉ như là chép lại sách giáo viên mà không có sự đầu tư nào khác, không chú ý đến đối tượng học sinh cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt có trường hợp mượn giáo án cũ rồi chép lại. Những điều đó làm cho chất lượng giảng dạy kém hiệu quả. Đối với những giáo viên có trình độ chuyên môn vững thì đã có sự đầu tư nhất định. Khi lập kế hoạch bài học họ đã có sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng như tính đến các yếu tố: Học sinh, phương tiện dạy học, mày mò các tài liệu tham khảo, chú trọng tới việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên số giáo viên này chưa nhiều.
	Sau đây là kết quả phân loại hồ sơ giáo viên trong năm học 2006 – 2007. 
	Tổng số hồ sơ được xếp loại: 26
	- Xếp loại A: 14 hồ sơ.	
	- Xếp loại B: 10 hồ sơ.
	- Xếp loại C: 02 hồ sơ
	Việc phân loại kế hoạch bài học mới chỉ dừng ở mức những tiêu chí sau:
	- Loại A: Đủ bài soạn, không nhầm lẫn kiến thức, không cắt xén chương trình, đủ các bước lên lớp, trình bày sạch sẽ, có hệ thống câu hỏi gợi mở hướng dẫn học sinh.
	- Loại B: Như các tiêu chí của loại A nhưng còn một số bài soạn sơ lược. 
	- Loại C: Bài soạn sơ lược nhiều, trình bày chưa khoa học. 
	Tóm lại: Thực trạng việc thiết kế kế hoạch bài học là: Đủ bài, đúng phân phối chương trình. Một bộ phận giáo viên nòng cốt có ý thức trách nhiệm tốt đầu tư nhiều cho bài soạn. Song song với những thiết kế tốt vẫn còn nhiều giáo án sơ lược, chưa chú ý dúng mức đến phương pháp dạy học đặc t ... Phần thứ ba
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN CHUNG.	
Tóm lại: Thực trạng soạn bài và thực hiện bài dạy ở trên lớp của giáo viên những năm trước đây còn nhiều bất cập, đó là:
	- Tính hình thức, soạn bài mà không có sự sáng tạo, linh hoạt trong quá trình chuẩn bị bài dạy, ít được đầu tư công sức cho quá trình này...
	- Việc lên lớp thực hiện bài dạy còn không chú ý đến các hình thức dạy học, chưa coi trọng đổi mới phương pháp và ít sử dụng đồ dùng dạy học làm cho giờ dạy tẻ nhạt thiếu sức hút, không phát huy hết tính tích cực của các hoạt động của học sinh...
	Từ khi nắm bắt được những tồn tại trên, đưa vào áp dụng một số kinh nghiệm nhỏ để tổ chức khắc phục những nhược điểm đó đồng thời chỉ đạo từng bước nâng cao chất lượng soạn bài và giờ học của giáo viên. Chất lượng bài soạn, giờ dạy đã được nâng lên rõ rệt. Đây là bài học lớn trong khâu tổ chức chỉ đạo chuyên môn của hiệu trưởng Trường Tiểu học, nhờ có những giải pháp đồng bộ trong khâu thiết kế, thi công bài giảng và công tác kiểm tra nội bộ trường học mà chất lượng toàn diện cũng như chất lượng mũi nhọn ( học sinh giỏi các cấp) được nâng lên vượt bậc.
	Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu, cần có thêm thời gian để tiếp tục kiểm chứng, cần được sự quan tâm hơn nữa của nghành trong công tác chỉ đạo hoạt động chuyên môn nói chung và chỉ đạo công tác soạn giảng nói riêng thì chắc chắn rằng chất lượng dạy và học của trường Tiểu học Hoà Sơn A sẽ còn được nâng cao hơn nữa.
II. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG SÁNG KIẾN.
	Sau khi rút ra những biện pháp trong việc tổ chức chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác thiết kế và thi công bài giảng, công tác kiểm tra nội bộ trường học và áp dụng vào thực tiễn của nhà trường tôi nhận thấy mọi cán bộ quản lý đều có thể áp dụng kinh nghiệm này vào công tác tổ chức chỉ đạo của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường. Việc áp dụng kinh nghiệm không khó, có điều yêu cầu người cán bộ quản lý cần có lòng kiên trì, tâm huyết với công việc khi tổ chức thực hiện. Tôi tin tưởng rằng kinh nghiệm của mình có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung, việc thiết kế kế hoạch bài học và thi công trên lớp nói riêngcho giáo viên. Kinh nghiệm này cũng có khả năng áp dụng cho các đơn vị trường tiểu học ở các vùng miền khác nhau đều mang lại hiệu quả. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan ở từng địa phương mà hiệu quả đạt được cao hoặc thấp.
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
	Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội đối với nhà trường cùng với sự cố gắng chung của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan trọng. Để có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm nêu trên vào công tác dạy học của mình, tôi có một số đề xuất như sau:
- Đối với ngành : Đề nghị có cơ chế chính sách đào tạo đội ngũ giáo viên phù hợp hơn nữa, có thể nghiên cứu để đào tạo giáo viên dạy chuyên một số bộ môn.
- Đối với chính quyền các cấp: Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư CSVC với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
- Đối với các đơn vị trường học: Cần coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng soạn bài và thi công trên lớp của giáo viên, coi đây là biên pháp nâng cao chất lượng giáo dục bởi hai vấn đề này thực chất có tác động tương hỗ lẫn nhau nếu không muốn nói là một.
- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần coi việc “Soạn bài” là một công việc quan trọng không thể thiếu của người giáo viên. Tránh tư tưởng chỉ cần làm chiếu lệ, có tính đối phó với các cấp quản lý với những lý do như “ Kết quả dạy trên lớp là trên hết”. Vì muốn dạy tốt trên lớp thì cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chu đáo mọi vấn đề của bài giảng, các tình huống có thể xảy ra... Đối với công tác dạy học trên lớp người giáo viên cần tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các hình thức tổ chức học tập hợp lý, sử dụng có hiệu quả đồ dùng trực quan. 
Chung quy lại, Với thời gian và khả năng có hạn nên tôi chỉ nêu lên một số biện pháp nhỏ trong công tác tổ chức, chỉ đạo giáo viên trong nhà trường với mục đích góp một phần nhỏ bé vào công tác nâng cao chất lượng dạy học. Những kiến nghị đề xuất chỉ mang tính chất khái quát những vấn đề chính trọng tâm. Mong nhận được sự quan tâm của các cấp quản lý, đặc biệt là của các đồng chí cùng làm công tác quản lý Trường Tiểu học.
Xin chân thành cảm ơn !
	 Hoà Sơn, ngày 25 tháng 05 năm2008
 Người thực hiện
	 Nguyễn Văn Xung
Đánh giá xếp loại của 
Hội đồng khoa học các cấp
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_s.doc